Ảnh ngẫu nhiên

Bai_lam_so_3.flv Quang_Dung__Vi_do_la_em_DieuHuong.mp3 AVSEQ03__Bong_dang_1ngoi_truong_k9.flv 734951_346776192108915_1602484983_n_15.jpg Qua_dia_ca_quay_dep.gif Lich_Tet_31.swf MOV01302.flv Mauchuvietbangchuhoadung.png Mauchuvietbangchuhoadung.png Mauchuvietbangchuhoadung.png Happy_New_Yer_20131.swf Loan_nam_moi_2013.swf Hapy_New_Yer__2013show0.flv Chucmungnammoi2013_ngayxuanlongphuongxumvay.swf Hinh009.jpg I00115.jpg IMG_0758.jpg IMG_0770.jpg

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (nvitxua@yahoo.com.vn)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    VIDEO CLIP

    Các bạn hãy nghe và cảm nhận một giọng ca người Mỹ (ca sỹ: Kyo York đang sống tại Việt Nam) hát nhạc Trịnh(Hạ Trắng)...

    Posted by Viết Xuân Nguyễn on 25 Tháng 7 2015

    TIN NÓNG ĐÂY...

    Chức năng chính 1

    CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2016

    Nhn dp nm mi Bnh Thn chc cc anh ch em ng nghip c mt bu tri sc khe, mt bin c tnh thng, mt i d...

    Posted by Trường THCS Dang Kang on8 Tháng 2 2016
    Gốc > TRANG THƠ >

    NỮ SĨ ĐOÀN THỊ ĐIỂM

    Ðoàn thị Ðiểm là nhà thơ Việt nam. Hiệu Hồng Hà nữ sĩ. Con của Ðoàn Doãn Nghi . Em danh sĩ Ðoàn Doãn Luân.

    Đoàn Thị Điểm

    Đoàn Thị Điểm

    Năm 16 tuổi, Thượng thư Lê Anh Tuấn muốn xin bà làm con nuôi   rồi ngỏ ý muốn tiến bà vào cung chúa Trịnh., nhưng chỉ ở ít lâu bà xin về. Cùng với anh cần cù học tập trở nên người sành văn chương.

    Đoàn Thị Điểm là vị nữ sĩ danh tiếng nhất của Việt Nam thời Lê, tác giả bản dịch Nôm Chinh phụ ngâm.

    Đoàn Thị Điểm (sinh 1705 – mất 1748), hiệu Hồng Hà, biệt hiệu Ban Tang. Sinh tại làng Hiến Phạm, xã Giai Phạm, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên). Do lấy chồng họ Nguyễn nên bà còn có tên là Nguyễn Thị Điểm.

    Mẹ của bà là Võ thị, vợ kế ông hương cống Lê Doãn Nghi, tương truyền trong một giấc mơ ông Nghi thấy có người ban cho họ Đoàn liền lấy họ Đoàn. Ngoài ra bà còn có một anh ruột là ông giám sinh Đoàn Luân.

    Đoàn Thị Điểm là người có tài trí và nhan sắc hơn người, nổi tiếng từ hồi trẻ. Năm 6 tuổi đã học rất giỏi. Năm 16 tuổi, có quan thượng thư Lê Anh Tuấn mến mộ muốn xin làm con nuôi, để tiến cử vào cung chúa Trịnh, nhưng bà nhất định từ chối. Về sau cha mất, gia đình phải chuyển về quê nhà, được ít lâu dời về làng Võ Ngai, tại đây Đoàn Thị Điểm cùng anh trai Đoàn Luân hành nghề dạy học.

    Nhưng ông Luân mất sớm, bà Điểm lại đem gia đình lên Sài Trang, ở đây bà được vời dạy học cho một cung nữ. Thời gian này bà kiêm luôn nghề bốc thuốc, gần như một tay nuôi sống cả gia đình – gồm 2 cháu nhỏ, mẹ và bà chị dâu goá. Bởi tài năng và sắc đẹp cộng với tính hiếu thuận rất đáng quý, bấy giờ bà được nhiều người cầu hôn nhưng nghĩ đến gia đình đành chối từ tất cả.

    Năm 1739 bà lại dẫn gia đình về xã Chương Dương dạy học.

    Năm 1743, sau một lời cầu hôn bất ngờ và chân thành, bà nhận lời làm vợ lẽ của ông binh bộ tả thị lang Nguyễn Kiều, theo ông về kinh đô. Ông Nguyễn Kiều sinh năm 1695, đậu tiến sĩ năm 21 tuổi, nổi tiếng là người hay chữ. Sau đám cưới vài ngày, thì ông Kiều phải đi sứ sang Tàu. Thời gian này Đoàn Thị Điểm còn nghiên cứu thiên văn, bói toán và viết sách…

    Năm 1746, ba năm chờ chồng dài đằng đẳng vừa kết thúc, bà lại phải khăn gói, từ biệt mẹ già cháu nhỏ để sang Nghệ An, nơi ông Kiều mới được triều đình bổ nhiệm. Sang Nghệ An buồn bã quá, một phần nhớ người thân lại thêm lạ nước lạ cái, bệnh hoạn xuất hiện rồi ngày càng phát, đến ngày 9 tháng 11 năm 1748 (âm lịch), Đoàn Thị Điểm qua đời, hưởng dương 44 tuổi.

    Sự kính yêu của người đời sau với Đoàn Thị Điểm không chỉ vì tài thi văn điêu luyện, đặc sắc, còn vì bà có những phẩm chất cao quý, đức hạnh tốt đẹp xứng đáng là mẫu phụ nữ tiêu biểu của xã hội Việt Nam ở mọi thời đại.

    Đoàn Thị Điểm được xem là đứng đầu trong số các nữ sĩ danh tiếng nhất Việt Nam (sau đó là Bà huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương, Sương Nguyệt Ánh).

    Bà làm thơ rất hay, tiếng tăm đã nổi từ 15 tuổi, được những bậc hay chữ cùng thời như Ngô Thì Sĩ, Đặng Trần Côn tán thưởng.

    Khi bà dạy học ở kinh thành và Chương Dương xã đều được rất đông học sinh tới học, trong đó có người sau này đỗ tiến sĩ là ông Đào Duy Ích.

    Đoàn Thị Điểm viết sách nhiều nhưng thất lạc cũng nhiều, hậu thế chỉ còn biết đến một vài tác phẩm Hồng Hà nữ sĩ gồm:

    Tục truyền kỳ

    Còn gọi là Truyền kỳ tân phả, sách viết bằng chữ nho. Trong có 7 truyện:

    * Vân các thần nữ (bà chúa Liễu Hạnh)
    * Hải khẩu linh từ (nữ thần Chế Thắng)
    * An ấp liệt nữ (tiểu thiếp Đinh Nho Hàn)
    * Nghĩa khuyển thập miêu (chó nuôi mèo)
    * Hoành sơn tiến cục (cờ trên núi Hoành)
    * Mai huyền (cây mai huyền bí)
    * Yến anh đối thoại (Yến anh nói chuyện)

    Hai truyện cuối trong danh sách trên đã bị thất lạc. Sách này là nối tiếp sách Truyền kỳ mạn lục của ông Nguyễn Dữ

    Chinh Phụ Ngâm

    Là bản việt hoá của tác phẩm Chinh Phụ Ngâm bằng hán văn của ông Đặng Trần Côn sáng tác.

    Bản dịch gồm 412 câu theo lối song thất lục bát, trong diễn tả nhiều tâm trạng: hy vọng, buồn bã, giận hờn tựu về một mối đó là nỗi nhớ nhung khắc khoải của một người chinh phụ (vợ có chồng đi lính) đang chờ chồng trở về sum họp.

    Đây có lẽ cũng là tâm trạng của bà Điểm trong các năm 1743 – 1746 khi ông Nguyễn Kiểu đi sứ sang Trung Quốc.

    Tuy là bản dịch, nhưng thậm chí còn được yêu thích hơn bản chính, nên đến nay được xem như là một sáng tác của bà Điểm.

    Tác phẩm từng được dịch ra tiếng Pháp bởi những nhà văn trong nhóm Mercure de France, với tên Les Plaintes d’une Chinh phu (1939). Sau này giáo sư Takeuchi dịch ra tiếng Nhật, với tên Seifu Ginkyoku.

    Cùng với Truyện Kiều của Nguyễn Du, Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, bản dịch Chinh Phụ Ngâm của Hồng Hà nữ sĩ được xem là tác phẩm ưu tú nhất của nền thi văn trung đại Việt Nam

    Ðoàn thị Ðiểm là nhà thơ Việt nam. Hiệu Hồng Hà nữ sĩ. Con của Ðoàn Doãn Nghi . Em danh sĩ Ðoàn Doãn Luân.

    Đoàn Thị Điểm

    Đoàn Thị Điểm

    Năm 16 tuổi, Thượng thư Lê Anh Tuấn muốn xin bà làm con nuôi   rồi ngỏ ý muốn tiến bà vào cung chúa Trịnh., nhưng chỉ ở ít lâu bà xin về. Cùng với anh cần cù học tập trở nên người sành văn chương.

    Đoàn Thị Điểm là vị nữ sĩ danh tiếng nhất của Việt Nam thời Lê, tác giả bản dịch Nôm Chinh phụ ngâm.

    Đoàn Thị Điểm (sinh 1705 – mất 1748), hiệu Hồng Hà, biệt hiệu Ban Tang. Sinh tại làng Hiến Phạm, xã Giai Phạm, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên). Do lấy chồng họ Nguyễn nên bà còn có tên là Nguyễn Thị Điểm.

    Mẹ của bà là Võ thị, vợ kế ông hương cống Lê Doãn Nghi, tương truyền trong một giấc mơ ông Nghi thấy có người ban cho họ Đoàn liền lấy họ Đoàn. Ngoài ra bà còn có một anh ruột là ông giám sinh Đoàn Luân.

    Đoàn Thị Điểm là người có tài trí và nhan sắc hơn người, nổi tiếng từ hồi trẻ. Năm 6 tuổi đã học rất giỏi. Năm 16 tuổi, có quan thượng thư Lê Anh Tuấn mến mộ muốn xin làm con nuôi, để tiến cử vào cung chúa Trịnh, nhưng bà nhất định từ chối. Về sau cha mất, gia đình phải chuyển về quê nhà, được ít lâu dời về làng Võ Ngai, tại đây Đoàn Thị Điểm cùng anh trai Đoàn Luân hành nghề dạy học.

    Nhưng ông Luân mất sớm, bà Điểm lại đem gia đình lên Sài Trang, ở đây bà được vời dạy học cho một cung nữ. Thời gian này bà kiêm luôn nghề bốc thuốc, gần như một tay nuôi sống cả gia đình – gồm 2 cháu nhỏ, mẹ và bà chị dâu goá. Bởi tài năng và sắc đẹp cộng với tính hiếu thuận rất đáng quý, bấy giờ bà được nhiều người cầu hôn nhưng nghĩ đến gia đình đành chối từ tất cả.

    Năm 1739 bà lại dẫn gia đình về xã Chương Dương dạy học.

    Năm 1743, sau một lời cầu hôn bất ngờ và chân thành, bà nhận lời làm vợ lẽ của ông binh bộ tả thị lang Nguyễn Kiều, theo ông về kinh đô. Ông Nguyễn Kiều sinh năm 1695, đậu tiến sĩ năm 21 tuổi, nổi tiếng là người hay chữ. Sau đám cưới vài ngày, thì ông Kiều phải đi sứ sang Tàu. Thời gian này Đoàn Thị Điểm còn nghiên cứu thiên văn, bói toán và viết sách…

    Năm 1746, ba năm chờ chồng dài đằng đẳng vừa kết thúc, bà lại phải khăn gói, từ biệt mẹ già cháu nhỏ để sang Nghệ An, nơi ông Kiều mới được triều đình bổ nhiệm. Sang Nghệ An buồn bã quá, một phần nhớ người thân lại thêm lạ nước lạ cái, bệnh hoạn xuất hiện rồi ngày càng phát, đến ngày 9 tháng 11 năm 1748 (âm lịch), Đoàn Thị Điểm qua đời, hưởng dương 44 tuổi.

    Sự kính yêu của người đời sau với Đoàn Thị Điểm không chỉ vì tài thi văn điêu luyện, đặc sắc, còn vì bà có những phẩm chất cao quý, đức hạnh tốt đẹp xứng đáng là mẫu phụ nữ tiêu biểu của xã hội Việt Nam ở mọi thời đại.

    Đoàn Thị Điểm được xem là đứng đầu trong số các nữ sĩ danh tiếng nhất Việt Nam (sau đó là Bà huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương, Sương Nguyệt Ánh).

    Bà làm thơ rất hay, tiếng tăm đã nổi từ 15 tuổi, được những bậc hay chữ cùng thời như Ngô Thì Sĩ, Đặng Trần Côn tán thưởng.

    Khi bà dạy học ở kinh thành và Chương Dương xã đều được rất đông học sinh tới học, trong đó có người sau này đỗ tiến sĩ là ông Đào Duy Ích.

    Đoàn Thị Điểm viết sách nhiều nhưng thất lạc cũng nhiều, hậu thế chỉ còn biết đến một vài tác phẩm Hồng Hà nữ sĩ gồm:

    Tục truyền kỳ

    Còn gọi là Truyền kỳ tân phả, sách viết bằng chữ nho. Trong có 7 truyện:

    * Vân các thần nữ (bà chúa Liễu Hạnh)
    * Hải khẩu linh từ (nữ thần Chế Thắng)
    * An ấp liệt nữ (tiểu thiếp Đinh Nho Hàn)
    * Nghĩa khuyển thập miêu (chó nuôi mèo)
    * Hoành sơn tiến cục (cờ trên núi Hoành)
    * Mai huyền (cây mai huyền bí)
    * Yến anh đối thoại (Yến anh nói chuyện)

    Hai truyện cuối trong danh sách trên đã bị thất lạc. Sách này là nối tiếp sách Truyền kỳ mạn lục của ông Nguyễn Dữ

    Chinh Phụ Ngâm

    Là bản việt hoá của tác phẩm Chinh Phụ Ngâm bằng hán văn của ông Đặng Trần Côn sáng tác.

    Bản dịch gồm 412 câu theo lối song thất lục bát, trong diễn tả nhiều tâm trạng: hy vọng, buồn bã, giận hờn tựu về một mối đó là nỗi nhớ nhung khắc khoải của một người chinh phụ (vợ có chồng đi lính) đang chờ chồng trở về sum họp.

    Đây có lẽ cũng là tâm trạng của bà Điểm trong các năm 1743 – 1746 khi ông Nguyễn Kiểu đi sứ sang Trung Quốc.

    Tuy là bản dịch, nhưng thậm chí còn được yêu thích hơn bản chính, nên đến nay được xem như là một sáng tác của bà Điểm.

    Tác phẩm từng được dịch ra tiếng Pháp bởi những nhà văn trong nhóm Mercure de France, với tên Les Plaintes d’une Chinh phu (1939). Sau này giáo sư Takeuchi dịch ra tiếng Nhật, với tên Seifu Ginkyoku.

    Cùng với Truyện Kiều của Nguyễn Du, Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, bản dịch Chinh Phụ Ngâm của Hồng Hà nữ sĩ được xem là tác phẩm ưu tú nhất của nền thi văn trung đại Việt NamV


    Chinh phụ ngâm khúc nguyên tác bằng Hán văn là của Ðặng Trần Côn. Bản diễn nôm nổi tiếng vốn vẫn được xem là của Ðoàn Thị Ðiểm, nhưng bắt đầu từ năm 1926 một số người đặt vấn đề hoặc khẳng định bản ấy thực ra là của Phan Huy Ích.

    Chinh phụ ngâm khúc

    Chinh phụ ngâm khúc

    Người phân vân đầu tiên là Ðông Châu Nguyễn Hữu Tiến, trong Nam phong, số 106. Người tìm hiểu công phu nhất và có thái độ dứt khoát nhất là Hoàng Xuân Hãn. Ông Hoàng đã viết hẳn một quyển sách lấy tên là Chinh phụ ngâm bị khảo (1952) để chứng minh kết luận của mình. Hiện nay, các nhà văn bản học vẫn chưa nhất trí ai là tác giả của khúc ngâm tuyệt tác này.

    Nói tác giả, không nói dịch giả, vì như Hoàng Xuân Hãn nhận xét, bản nôm Chinh phụ tuy là “văn dịch mà (tự nhiên) y như văn làm”. Chẳng qua Ðoàn Thị Ðiểm hay Phan Huy Ích mượn ý của Ðặng Trần Côn để làm thơ. Chỉ mượn ý chính thôi, chứ ý phụ vẫn Hoàng Xuân Hãn cho biết lắm chỗ bà Ðoàn hay ông Phan đã vất ý của ông Ðặng đi, thay bằng ý của mình!

    Sực nhớ Truyện Kiều của Nguyễn Du với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân…

    (Thu Tứ)

    Chinh phụ ngâm khúc

    I

    Thuở trời đất nổi cơn gió bụi (1)
    Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
    Xanh kia thăm thẳm tầng trên
    Vì ai gây dựng cho nên nỗi này.

    Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt (5)
    Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây
    Chín tầng gươm báu trao tay
    Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh.

    Nước thanh bình ba trăm năm cũ (9)
    Áo nhung trao quan vũ từ đây
    Sứ trời sớm giục đường mây
    Phép công là trọng niềm tây sá nào.

    Ðường giong ruổi lưng đeo cung tiễn (13)
    Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa
    Bóng cờ tiếng trống xa xa
    Sầu lên ngọn ải oán ra cửa phòng.

    II

    Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt (17)
    Xếp bút nghiên theo việc đao cung
    Thành liền mong tiến bệ rồng
    Thước gươm đã quyết chẳng dong giặc trời.

    Chí làm trai dặm nghìn da ngựa (21)
    Gieo Thái sơn nhẹ tựa hồng mao
    Giã nhà đeo bức chiến bào
    Thét roi cầu Vị ào ào gió thu.

    Ngòi đầu cầu nước trong như lọc (25)
    Ðường bên cầu cỏ mọc còn non
    Ðưa chàng lòng dặc dặc buồn
    Bộ khôn bằng ngựa thủy khôn bằng thuyền.

    Nước trong chảy lòng phiền chẳng rửa (29)
    Cỏ xanh thơm dạ nhớ khó quên
    Nhủ rồi nhủ lại cầm tay
    Bước đi một bước giây giây lại dừng.

    Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi (33)
    Dạ chàng xa ngoài cõi Thiên san
    Múa gươm rượu tiễn chưa tàn
    Chỉ ngang ngọn dáo vào ngàn hang beo.

    Săn Lâu lan rằng theo Giới tử (37)
    Tới Man khê bàn sự Phục ba
    Áo chàng đỏ tựa ráng pha
    Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.

    III

    Tiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trống (41)
    Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay
    Hà lương chia rẽ đường này
    Bên đường trông lá cờ bay ngùi ngùi.

    Quân trước đã gần ngoài doanh Liễu (45)
    Kỵ sau còn khuất nẻo Tràng dương
    Quân đưa chàng ruổi lên đường
    Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng.

    Tiếng địch thổi nghe chừng đồng vọng (49)
    Hàng cờ bay trông bóng phất phơ
    Dấu chàng theo lớp mây đưa
    Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà.

    Chàng thì đi cõi xa mưa gió (53)
    Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn
    Ðoái trông theo đã cách ngăn
    Tuôn mầu mây biếc trải ngần núi xanh.

    Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại (57)
    Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
    Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương
    Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.

    Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy (61)
    Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
    Ngàn dâu xanh ngắt một mầu
    Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai.

    IV

    Chàng từ khi vào nơi gió cát (65)
    Ðêm trăng này nghỉ mát phương nao
    Xưa nay chiến địa nhường bao
    Nội không muôn dặm xiết bao dãi dầu.

    Hơi gió lạnh người rầu mặt dạn (69)
    Dòng nước sâu ngựa nản chân bon
    Ôm yên gối chống đã chồn
    Nằm vùng cát trắng ngủ cồn rêu xanh.

    Nay Hán xuống Bạch thành đóng lại (73)
    Mai Hồ vào Thanh Hải dòm qua
    Hình khe thế núi gần xa
    Ðứt thôi lại nối thấp đà lại cao.

    Sương đầu núi buổi chiều như giội (77)
    Nước lòng khe nẻo suối còn sâu
    Não người áo giáp bấy lâu
    Lòng quê qua đó mặt sầu chẳng khuây.

    Trên trướng gấm thấu hay chăng nhẽ (81)
    Mặt chinh phu ai vẽ cho nên
    Tưởng chàng rong ruổi mấy niên
    Chẳng nơi Hãn hải thì miền Tiêu quan.

    Ðã trắc trở đòi ngàn xà hổ (85)
    Lại lạnh lùng những chỗ sương phong
    Lên cao trông thức mây lồng
    Lòng nào là chẳng động lòng bi thương.

    V

    Chàng từ sang đông nam khơi nẻo (89)
    Biết nay chàng tiến thảo nơi đâu
    Những người chinh chiến bấy lâu
    Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây.

    Nức hơi mạnh ơn dày từ trước (93)
    Trải chốn nghèo tuổi được bao nhiêu
    Non Kỳ mộ chỉ trăng treo
    Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò.

    Hồn tử sĩ gió ù ù thổi (97)
    Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
    Chinh phu tử sĩ mấy người
    Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn.

    Dấu binh lửa nước non như cũ (101)
    Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương
    Phận trai già ruổi chiến trường
    Chàng Siêu mái tóc điểm sương mới về.

    Tưởng chàng trải nhiều bề nắng nỏ (105)
    Ba thước gươm một cỗ nhung yên
    Xông pha gió bãi trăng ngàn
    Tên treo đầu ngựa giáo lan mặt thành.

    Áng công danh trăm đường rộn rã (109)
    Những nhọc nhằn nào đã nghỉ ngơi
    Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai
    Thiếp trong cánh cửa chàng ngoài chân mây.

    VI

    Trong cửa này đã đành phận thiếp (113)
    Ngoài mây kia há kiếp chàng vay
    Những mong cá nước vui vầy
    Nào ngờ đôi ngả nước mây cách vời.

    Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ (117)
    Chàng há từng học lũ vương tôn
    Cớ sao cách trở nước non
    Khiến người thôi sớm thôi hôm những sầu.

    Chàng phong lưu đương chừng niên thiếu (121)
    Sánh nhau cùng dan díu chữ duyên
    Nỡ nào đôi lứa thiếu niên
    Quan sơn để cách hàn huyên cho đành.

    Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu (125)
    Hỏi ngày về ước nẻo oanh ca
    Nay quyên đã giục oanh già
    Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo.

    Thuở đăng đồ mai chưa dạn gió (129)
    Hỏi ngày về chỉ độ đào bông
    Nay đào đã quyến gió đông
    Phù dung lại đã bên sông bơ xờ.

    Hẹn cùng ta Lũng Tây nham ấy (133)
    Sớm đã trông nào thấy hơi tăm
    Ngập ngừng lá rụng cành trâm
    Buổi hôm nghe dậy tiếng cầm xôn xao.

    Hẹn nơi nao Hán Dương cầu nọ (137)
    Chiều lại tìm nào có tiêu hao
    Ngập ngừng gió thổi chéo bào
    Bãi hôm tuôn dẫy nước trào mênh mông.

    Tin thường lại người không thấy lại (141)
    Hoa dương tàn đã trải rêu xanh
    Rêu xanh mấy lớp xung quanh
    Sân đi một bước trăm tình ngẩn ngơ.

    Thư thường tới người chưa thấy tới (145)
    Bức rèm thưa lần dãi bóng dương
    Bóng dương mấy buổi xuyên ngang
    Lời sao mười hẹn chín thường đơn sai.

    VII

    Thử tính lại diễn khơi ngày ấy (149)
    Tiền sen này đã nẩy là ba
    Xót người lần lữa ải xa
    Xót người nương chốn Hoàng hoa dặm dài.

    Tình gia thất nào ai chẳng có (153)
    Kìa lão thân khuê phụ nhớ thương
    Mẹ già phơ phất mái sương
    Con thơ măng sữa vả đương phù trì.

    Lòng lão thân buồn khi tựa cửa (157)
    Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm
    Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam
    Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân.

    Nay một thân nuôi già dạy trẻ (161)
    Nỗi quan hoài mang mể biết bao
    Nhớ chàng trải mấy sương sao
    Xuân từng đổi mới đông nào có dư.

    Kể năm đã ba tư cách diễn (165)
    Mối sầu thêm nghìn vạn ngổn ngang
    Ước gì gần gũi tấc gang
    Giãi niềm cay đắng để chàng tỏ hay.

    Thoa cung Hán thuở ngày xuất giá (169)
    Gương lầu Tần dấu đã soi chung
    Cậy ai mà gửi tới cùng
    Ðể chàng thấu hết tấm lòng tương tư.

    Nhẫn đeo tay mọi khi ngắm nghía (173)
    Ngọc cài đầu thuở bé vui chơi
    Cậy ai mà gởi tới nơi
    Ðể chàng trân trọng dấu người tương thân.

    VIII

    Trải mấy xuân tin đi tin lại (177)
    Tới xuân này tin hãy vắng không
    Thấy nhàn luống tưởng thư phong
    Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng.

    Gió tây nổi không đường hồng tiện (181)
    Xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa
    Màn mưa trướng tuyết xông pha
    Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài.

    Ðề chữ gấm phong thôi lại mở (185)
    Gieo bói tiền tin dở còn ngờ
    Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ
    Trăng khuya nương gối bơ phờ tóc mai.

    Há như ai hồn say bóng lẫn (189)
    Bỗng thơ thơ thẩn thẩn như không
    Trâm cài xiêm dắt thẹn thùng
    Lệch vừng tóc rối lỏng vòng lưng eo.

    Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước (193)
    Ngoài rèm thưa rủ thác đòi phen
    Ngoài rèm thước chẳng mách tin
    Trong rèm dường đã có đèn biết chăng.

    Ðèn có biết nhường bằng chẳng biết (197)
    Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi
    Buồn rầu nói chẳng nên lời
    Hoa đèn kia với bóng người khá thương.

    Gà eo óc gáy sương năm trống (201)
    Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên
    Khắc trời đằng đẵng bấy niên
    Mối sầu dằng dặc tựa miền bể xa.

    Hương gượng đốt hồn đà mê mải (205)
    Gương gượng soi lệ lại chứa chan
    Sắt cầm gượng gãy ngón đàn
    Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.

    Lòng này gửi gió đông có tiện (209)
    Nghìn vàng xin gửi đến non Yên
    Non Yên dù chẳng tới miền
    Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời.

    IX

    Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu (213)
    Nỗi nhớ nhung đau đáu nào xong
    Cảnh buồn người thiết tha lòng
    Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.

    Sương như búa bổ mòn gốc liễu (217)
    Tuyết nhường cưa xẻ héo cành ngô
    Giọt sương phủ bụi chim gù
    Sâu tường kêu vẳng chuông chùa nện khơi.

    Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc (221)
    Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên
    Lá màn lay ngọn gió xuyên
    Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm.

    Hoa giãi nguyệt nguyệt in một tấm (225)
    Nguyệt lồng hoa hoa thắm từng bông
    Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng
    Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đâu.

    Ðâu xiết kể trăm sầu nghìn não (229)
    Từ nữ công phụ xảo đều nguôi
    Biếng cầm kim biếng đưa thoi
    Oanh đôi thẹn dệt bướm đôi ngại thùa.

    Mặt biếng tô miệng càng biếng nói (233)
    Sớm lại chiều dòi dõi nương song
    Nương song luống ngẩn ngơ lòng
    Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai.

    Biếng trang điểm lòng người sầu tủi (237)
    Xót nỗi chàng ngoài cõi trùng quan
    Khác gì ả Chức chị Hằng
    Bến Ngân sùi sụt cung trăng chốc mòng.

    Sầu ôm nặng hãy chồng làm gối (241)
    Muộn ôm đầy hãy thổi làm cơm
    Mượn hoa mượn rượu giải buồn
    Sầu làm rượu nhạt muộn làm hoa ôi.

    Gõ sênh ngọc mấy hồi không tiếng (245)
    Ôm đàn tranh mấy phím rời tay
    Xót người hành dịch bấy nay
    Dặng xa thêm mỏi trắp đầy lại vơi.

    Ca quyên ghẹo làm rơi nước mắt (249)
    Trống tiều khua như đốt buồng gan
    Võ vàng đổi khác dung nhan
    Khuê ly mới biết tân toan dường này.

    X

    Nếm chua cay tấm lòng mới tỏ (253)
    Chua cay này há có vì ai
    Vì chàng lệ thiếp nhỏ đôi
    Vì chàng thân thiếp lẻ loi một bề.

    Thân thiếp chẳng gần kề dưới trướng (257)
    Lệ thiếp nào chút vướng bên khăn
    Duy còn hồn mộng được gần
    Ðêm đêm thường đến Giang Tân tìm người.

    Tìm chàng thuở Dương Ðài lối cũ (261)
    Gặp chàng nơi Tương Phố bến xưa
    Xum vầy mấy lúc tình cờ
    Chẳng qua trên gối một giờ mộng xuân.

    Giận thiếp thân lại không bằng mộng (265)
    Ðược gần chàng bến Lũng thành Quan
    Khi mơ những tiếc khi tàn
    Tình trong giấc mộng muôn vàn cũng không.

    Vui có một tấm lòng chẳng dứt (269)
    Vốn theo chàng giờ khắc nào nguôi
    Lòng theo nhưng chửa thấy người
    Lên cao mấy lúc trông vời bánh xe.

    Trông bến nam bãi che mặt nước (273)
    Cỏ biếc um dâu mướt màu xanh
    Nhà thôn mấy xóm chông chênh
    Một đàn cò đậu trước ghềnh chiều hôm.

    Trông đường bắc đôi chòm quán khách (277)
    Rườm rà cây xanh ngắt núi non
    Lúa thành thoi thóp bên cồn
    Nghe thôi ngọc địch véo von bên lầu.

    Non đông thấy lá hầu chất đống (281)
    Trĩ xập xòe mai cũng bẻ bai
    Khói mù nghi ngút ngàn khơi
    Con chim bạt gió lạc loài kêu thương.

    Lũng Tây chảy nước dường uốn khúc (285)
    Nhạn liệng không sóng giục thuyền câu
    Ngàn thông chen chúc khóm lau
    Cách ghềnh thấp thoáng người đâu đi về.

    Trông bốn bể chân trời mặt đất (289)
    Lên xuống lầu thấm thoắt đòi phen
    Lớp mây ngừng mắt ngại nhìn
    Biết đâu chinh chiến là miền Ngọc Quan.

    Gậy rút đất dễ khôn học chước (293)
    Khăn gieo cầu nào được thấy tiên
    Lòng này hóa đá cũng nên
    E không lệ ngọc mà lên trông lầu.

    XI

    Lúc ngoảnh lại ngắm màu dương liễu (297)
    Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong
    Chẳng hay muôn dặm ruổi giong
    Lòng chàng có cũng như lòng thiếp chăng.

    Lòng chàng ví cũng bằng như thế (301)
    Lòng thiếp nào dám nghĩ gần xa
    Hướng dương lòng thiếp như hoa
    Lòng chàng lẩn thẩn e tà bóng dương.

    Bóng dương để hoa vàng chẳng đoái (305)
    Hoa để vàng bởi tại bóng dương
    Hoa vàng hoa rụng quanh tường
    Trải xem hoa rụng đêm sương mấy lần.

    Chồi lan nọ trước sân đã hái (309)
    Ngọn tần kia bên bãi đưa hương
    Sửa xiêm dạo bước tiền đường
    Ngửa trông xem vẻ thiên chương thẫn thờ.

    Bóng Ngân hán khi mờ khi tỏ (313)
    Ðộ Khuê triền buổi có buổi không
    Thức mây đòi lúc nhạt nồng
    Chuôi sao Bắc Ðẩu thôi đông lại đoài.

    Mặt trăng tỏ thường soi bên gối (317)
    Bừng mắt trông sương gội cành khô
    Lạnh lùng thay bấy nhiêu thu
    Gió mây hiu hắt trên đầu tường vôi.

    Một năm một nhạt màu son phấn (321)
    Trượng phu còn thơ thẩn miền khơi
    Xưa sao hình ảnh chẳng rời
    Bây giờ nỡ để cách vời Sâm Thương.

    Chàng ruổi ngựa dặm trường mây phủ (325)
    Thiếp dạo hài lối cũ rêu in
    Gió xuân ngày một vắng tin
    Khá thương lỡ hết mấy phen lương thì.

    Xẩy nhớ khi cành Diêu đóa Ngụy (329)
    Trước gió xuân vàng tía sánh nhau
    Nọ thì ả Chức chàng Ngâu
    Tới trăng thu lại bắc cầu sang sông.

    Thương một kẻ phòng không luống giữ (333)
    Thời tiết lành lầm lỡ đòi nau
    Thoi đưa ngày tháng ruổi mau
    Người đời thấm thoắt qua mầu xuân xanh.

    Xuân thu để giận quanh ở dạ (337)
    Hợp ly đành buồn quá khi vui
    Oán sầu nhiều nỗi tơi bời
    Vóc bồ liễu dễ ép nài chiều xuân.

    Kìa Văn Quân mỹ miều thuở trước (341)
    E đến khi đầu bạc mà thương
    Mặt hoa nọ gã Phan lang
    Sợ khi mái tóc điểm sương cũng ngừng

    Nghĩ nhan sắc đương chừng hoa nở (345)
    Tiếc quang âm lần lữa gieo qua
    Nghĩ mệnh bạc tiếc niên hoa
    Gái tơ mấy chốc hóa ra nạ dòng.

    Gác nguyệt nọ mơ mòng vẻ mặt (349)
    Lầu hoa kia phảng phất mùi hương
    Trách trời sao để nhỡ nhàng
    Thiếp rầu thiếp lại rầu chàng chẳng quên.

    XII

    Chàng chẳng thấy chim uyên ở nội (353)
    Cũng dập dìu chẳng vội phân trương
    Chẳng xem chim yến trên rường
    Bạc đầu không nỡ đôi đường rẽ nhau.

    Kìa loài sâu hai đầu cùng sánh (357)
    Nọ loài chim chắp cánh cùng bay
    Liễu sen là thức cỏ cây
    Ðôi hoa cũng sánh đôi dây cũng liền.

    Ấy loài vật tình duyên còn thế (361)
    Sao kiếp người nỡ để đấy đây
    Thiếp xin về kiếp sau này
    Như chim liền cánh như cây liền cành.

    Ðành muôn kiếp chữ tình đã vậy (365)
    Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau
    Thiếp xin chàng chớ bạc đầu
    Thiếp thì giữ mãi lấy màu trẻ trung.

    Xin làm bóng theo cùng chàng vậy (369)
    Chàng đi đâu cũng thấy thiếp bên
    Chàng nương vừng nguyệt phỉ nguyền
    Mọi bề trung hiếu thiếp xin vẹn tròn.

    XIII

    Lòng hứa quốc tựa son ngăn ngắt (373)
    Sức tý dân dường sắt trơ trơ
    Máu Thuyền Vu quắc Nhục Chi
    Ấy thì bữa uống ấy thì buổi ăn.

    Mũi đồng bác đôi lần hăm hở (377)
    Ðã lòng trời gìn giữ người trung
    Hộ chàng trăm trận nên công
    Buông tên ải bắc treo cung non đoài.

    Bóng kỳ xí giã ngoài quan ải (381)
    Tiếng khải ca trở lại thần kinh
    Ðỉnh non kia đá đề danh
    Triều thiên vào trước cung đình dâng công.

    Nước Ngân Hán việt đồng rửa sạch (385)
    Khúc Nhạc Từ réo rắt lừng khen
    Tài so Tần, Hoắc vẹn tuyền
    Tên ghi gác Khói tượng truyền đài Lân.

    Nền huân tướng đai cân rạng vẻ (389)
    Chữ đồng hưu bia để nghìn đông
    Ơn trên ấm tử thê phong
    Phân vinh thiếp cũng đượm chung hương trời.

    Thiếp chẳng dại như người Tô phụ (393)
    Chàng hẳn không như lũ Lạc Dương
    Khi về đeo quả ấn vàng
    Trên khung cửi dám rẫy ruồng làm cao.

    Xin vì chàng xếp bào cởi giáp (397)
    Xin vì chàng giũ lớp phong sương
    Vì chàng tay chúc chén vàng
    Vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng.

    Mở khăn lệ chàng trông từng tấm (401)
    Ðọc thơ sầu chàng thấm từng câu
    Câu vui đổi lấy câu sầu
    Rượu khà cùng kể trước sau mọi lời.

    Sẽ rót vơi lần lần từng chén (405)
    Sẽ ca lần ren rén từng thiên
    Liên ngâm đối ẩm đòi phen
    Cùng chàng lại kết mối duyên đến già.

    Cho bõ lúc xa sầu cách nhớ (409)
    Giữ gìn nhau vui thuở thanh bình
    Ngâm nga mong mỏi chữ tình
    Nhường này âu hẳn tài lành trượng phu.

    Theo gocnhin


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Viết Xuân @ 18:59 05/01/2013
    Số lượt xem: 2685
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    RANDY hát bằng cả trái tim

    Chưa bao giờ nghe bài hát hay như vậy...

    Posted by Nguyễn Hải Trung on 13 Tháng 1 2014

    Ai nói con gái yếu mềm?

    Beti ko Chand jaisi mat banao ki har koi ghoor ghoor k dekhe...PerBeti ko Suraj jaisi banao taki ghoor ne se pehle sab ki nazar jhuk jaye...

    Posted by Laughing Colours on 17 Tháng 4 2015

    CƯỜI TÝ CHO VUI...

    vaiiiiii saracul , i-a cazut......,cucul

    Posted by Jamall Georgeta Amina on 18 Tháng 12 2014

    Mãn nhãn với dàn nhạc Điện tử...

    Pipe Dream

    This is pretty damn amazing

    Posted by Krafty Kuts on 19 Tháng 10 2014

    Một dàn nhạc độc đáo...

    Resonant Chamber - Animusic 2 DVDPosted by Animusic on 12 Tháng 5 2009

    MÀN XIẾC ĐỘC ĐÁO...

    Quấn khăn nghệ thuật

    Winter scarfing for the ladies.

    Posted by Shanghaiist on 19 Tháng 12 2015

    BIDA NGHỆ THUẬT TUYỆT ĐỈNH

    wauuuuuuu!!

    Posted by MyTopFM on 24 Tháng 10 2014

    Xin lỗi mẹ...Xin lỗi cha...

    Xin lỗi mẹ!

    Người đang stress mà nghe bài này sẽ khóc và nhẹ nhõm biết bao.Xin lỗi mẹ!Con không bằng người taXin lỗi chaCon vẫn còn vô dụngNhưng... Cha ơi,Mẹ ơiXin hãy vững tin vào conhttp://bit.ly/1NIW8PE

    Posted by Chip đường phố on 12 Tháng 9 2015

    HÃY XEM ĐỂ CẢNH GIÁC...

    Cuối năm rồi, mọi người hãy cảnh giác cao độ :o

    Posted by Chuẩn CMNR on 7 Tháng 1 2016

    TUYỆT ĐỈNH BÓNG BÀN

    Este es el punto más largo y espectacular de la historia del tenis de mesa ow.ly/RDIHT

    Posted by latercera.com on 1 Tháng 9 2015

    CẬU BÉ & CÂY TÁO

    CÂU CHUYỆN DÀNH CHO TẤT CẢ MỌI NGƯỜI!Đừng bao giờ phàn nàn về những gì mà bố mẹ cho bạn dù tốt hay xấu, bởi đó là tất cả những gì họ có.Cây táo và cậu bé trong câu chuyện là biểu tượng cho mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái. Cây táo giống như cha mẹ của chúng ta, khi còn bé chúng ta rất thích chơi đùa với cha mẹ. Rồi khi chúng ta lớn lên rời khỏi mái ấm gia đình, thường chúng ta chỉ về với đấng sinh thành khi cần điều gì hoặc gặp trở ngại trong cuộc sống.Mặc dù vậy, cha mẹ lúc nào cũng sẵn sàng mở rộng vòng tay đón nhận chúng ta. Các bạn có thể cho rằng cậu bé trong câu chuyện đã đối đãi với cây táo một cách nhẫn tâm nhưng đó cũng là cách mà đa số chúng ta đối đãi với cha mẹ mình.HÃY NHỚ RẰNG TÌNH YÊU CỦA CHA MẸ DÀNH CHO CON CÁI LÀ VÔ TẬN NHƯNG THỜI GIAN THÌ KHÔNG CHỜ ĐỢI MỘT AI. VÌ VẬY, HÃY YÊU THƯƠNG CHA MẸ KHI CÒN CÓ THỂ.

    Posted by Pham Ngoc Anh on 14 Tháng 1 2016

    Nhúng mã HTML

    Nhúng mã HTML